AlgoLabAlgoLabAlgoLabAlgoLabAlgoLabAlgoLab

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng tháng – General Statistics Office of

Tải .docx

BỘ TÀI CHÍNH

CỤC THỐNG KÊ

________________

Số: 327/BC-CTK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________________________

Hà Nội, ngày 03 tháng 9 năm 2026

BÁO CÁO

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG TÁM VÀ 8 THÁNG NĂM 2026

21361403956000

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng Tám duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng, chăm sóc lúa, hoa màu vụ mùa và vụ hè thu; tuy nhiên so với cùng kỳ, diện tích gieo trồng lúa và một số cây trồng giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng, thời tiết không thuận lợi. Chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển tích cực. Sản lượng gỗ khai thác tăng khá do nhu cầu nguyên liệu của các cơ sở chế biến tăng. Nuôi trồng thủy sản tiếp tục xu hướng tích cực nhờ đẩy mạnh thâm canh, ứng dụng khoa học công nghệ và thị trường tiêu thụ ổn định.

a) Nông nghiệp

Lúa hè thu

Tính đến ngày 20/8/2026, cả nước cơ bản đã hoàn thành gieo trồng vụ lúa hè thu với diện tích đạt 1.870,0 nghìn ha, giảm 29,1 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước. Trong đó, các địa phương phía Bắc đạt 167,5 nghìn ha, giảm 4,9 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1.702,5 nghìn ha, giảm 24,2 nghìn ha. Diện tích gieo trồng lúa hè thu giảm so với năm trước do một số địa phương chuyển đổi một phần diện tích lúa hè thu sang cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn hoặc thu hồi đất phục vụ các dự án, công trình công cộng. Bên cạnh đó, tình trạng nắng nóng kéo dài ở một số địa phương gây thiếu hụt nguồn nước tưới khiến một phần diện tích không thể gieo trồng.

Đến ngày 20/8/2026, cả nước có 723,7 nghìn ha lúa hè thu cho thu hoạch, chiếm 38,7% diện tích xuống giống và bằng 77,5% cùng kỳ năm trước. Tiến độ thu hoạch lúa hè thu chậm hơn cùng kỳ năm trước chủ yếu do các địa phương điều chỉnh lịch thời vụ, lùi thời điểm xuống giống nhằm chủ động ứng phó với tình trạng khô hạn, thiếu nước. Trong đó, An Giang thu hoạch được 240,5 nghìn ha, chiếm 47,8% diện tích xuống giống và bằng 64,9% cùng kỳ năm 2025; Cần Thơ 159,2 nghìn ha, chiếm 56,1% và bằng 86,6%; Đồng Tháp 145,4 nghìn ha, chiếm 62,7% và bằng 78,2%. Đối với diện tích lúa hè thu còn lại, các địa phương cần theo dõi sát diễn biến thời tiết, tình hình sâu bệnh, đồng thời hướng dẫn nông dân tranh thủ thời tiết thuận lợi, tập trung thu hoạch nhanh gọn diện tích lúa đã chín nhằm hạn chế thiệt hại.

Lúa mùa

Tính đến ngày 20/8/2026, cả nước gieo cấy được 1.312,5 nghìn ha lúa mùa, giảm 50,7 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 938,5 nghìn ha, giảm 38,2 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 374,0 nghìn ha, giảm 12,5 nghìn ha. Diện tích lúa mùa giảm do chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa không hiệu quả sang trồng cây hằng năm, cây lâu năm, nuôi thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn hoặc phục vụ xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp. Ngoài ra, một số diện tích vụ mùa không gieo cấy được do điều kiện sản xuất khó khăn.

Lúa thu đông

Tính đến ngày 20/8/2026, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 292,3 nghìn ha lúa thu đông, bằng 64,2% cùng kỳ năm trước, trong đó: Cần Thơ đạt 88,5 nghìn ha, bằng 96,2%; An Giang đạt 79,4 nghìn ha, bằng 40,0%; Đồng Tháp đạt 75,4 nghìn ha, bằng 85,2%. Tiến độ gieo trồng lúa thu đông chậm hơn cùng kỳ năm trước chủ yếu do thu hoạch muộn lúa vụ hè thu. Hiện các trà lúa thu đông đang sinh trưởng và phát triển tốt.

Cây hằng năm

Cùng với gieo cấy lúa, các địa phương trên cả nước đang tiến hành gieo trồng cây hoa màu. Tuy nhiên, diện tích một số cây hằng năm giảm so với cùng kỳ năm trước do thời tiết nắng nóng kéo dài gây thiếu nước ở các tỉnh phía Nam, ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất nên người dân giảm diện tích canh tác.

Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm

(Tính đến ngày 20/8/2026)

Chăn nuôi

Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả tự nhiên bị thu hẹp, nguồn thức ăn thô, xanh giảm, trong khi giá thức ăn chăn nuôi ở mức cao. So với cùng thời điểm năm trước, một số địa phương có số lượng trâu giảm nhiều: Thanh Hóa giảm 9,6%; Tuyên Quang giảm 9,3%; Quảng Ngãi giảm 8,7%; Phú Thọ giảm 7,0%; các địa phương có số lượng bò giảm nhiều: Thanh Hóa giảm 8,5%; Phú Thọ giảm 5,6%; Vĩnh Long giảm 5,1%; Sơn La giảm 3,5%; Đắk Lắk giảm 3,1%; Tây Ninh giảm 2,0%. Ngược lại, tại một số địa phương có lợi thế về quỹ đất, nguồn thức ăn và phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, hàng hóa gắn với cải tạo giống, nuôi nhốt, vỗ béo và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đàn bò tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Đồng Nai tăng 3,5%; Lâm Đồng tăng 3,0%; Nghệ An tăng 2,5% và Đà Nẵng tăng 1,2%.

Chăn nuôi lợn đạt kết quả tích cực. Khu vực doanh nghiệp và trang trại có quy mô chăn nuôi lớn nhờ chủ động về con giống, nguồn thức ăn, áp dụng quy trình chăn nuôi khép kín và tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn sinh học. Một số địa phương có đàn lợn tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Cao Bằng tăng 32,6%; Gia Lai tăng 17,3%; Phú Thọ tăng 10,9%; Quảng Ngãi tăng 6,8%; Đà Nẵng tăng 6,1%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,2%; Lâm Đồng tăng 4,9%; Đồng Nai tăng 4,4%.

Chăn nuôi gia cầm tăng khá nhờ khả năng thích ứng tương đối tốt với biến động của thị trường, chu kỳ nuôi ngắn, thời gian quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu dùng thịt, trứng cơ bản ổn định. Việc phát triển chăn nuôi trang trại, khép kín và liên kết với doanh nghiệp cũng góp phần nâng cao khả năng kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, giá thức ăn chăn nuôi tăng trở lại cùng với chi phí đầu vào biến động đang ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, nhất là đối với các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ.

Hình 2. Tốc độ tăng, giảm số lượng gia súc, gia cầm cuối tháng Tám năm 2026 so với cùng thời điểm năm trước

Tính đến ngày 27/8/2026, cả nước không còn dịch tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm còn ở Hưng Yên, Ninh Bình, Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An; dịch viêm da nổi cục còn ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Điện Biên, Quãng Ngãi, Đồng Nai, Đồng Tháp và dịch tả lợn châu Phi còn ở 22 địa phương chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng Tám ước đạt 21,3 nghìn ha, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 6,0 triệu cây, giảm 4,8%. Diện tích rừng trồng trong tháng giảm do thực hiện theo kế hoạch của các địa phương và thời tiết nắng nóng đầu tháng Tám. Sản lượng gỗ khai thác đạt 2.372,3 nghìn m3, tăng 4,4%, do nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu của các cơ sở chế biến gỗ tăng. Tính chung tám tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 180,8 nghìn ha, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 63,9 triệu cây, tăng 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 16.662,9 nghìn m3, tăng 6,5%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Tám là 240,6 ha, gấp 7,6 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó rừng bị chặt, phá là 37,4 ha, tăng 64,8%; diện tích rừng bị cháy là 203,2 ha, gấp 23,1 lần, chủ yếu do thời tiết nắng nóng, khô hanh tại một số khu vực gây cháy rừng. Bên cạnh đó, một số vụ vi phạm quy định về bảo vệ rừng cũng làm tăng diện tích rừng bị thiệt hại. Tính chung tám tháng năm 2026, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.086,0 ha, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 374,5 ha, giảm 42,8%; diện tích rừng bị cháy là 711,5 ha, gấp 2,3 lần.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Tám ước đạt 991,3 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 680,4 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 176,2 nghìn tấn, tăng 6,6%; thủy sản khác đạt 134,8 nghìn tấn, tăng 9,4%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng Tám ước đạt 629,3 nghìn tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 397,4 nghìn tấn, tăng 4,9%; tôm đạt 162,8 nghìn tấn, tăng 7,0%; thủy sản khác đạt 69,1 nghìn tấn, tăng 16,0%. Tính chung tám tháng năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.253,9 nghìn tấn, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Cá đạt 2.716,6 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm đạt 1.097,4 nghìn tấn, tăng 7,9%; thủy sản khác đạt 439,9 nghìn tấn, tăng 10,7%.

Sản lượng cá tra thu hoạch trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước do giá cá tra nguyên liệu ổn định, sản lượng cá tra thu hoạch bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu. Sản lượng cá tra trong tháng ước đạt 160,6 nghìn tấn tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; tính chung tám tháng năm 2026 đạt 1.250,7 nghìn tấn, tăng 4,8%.

Sản lượng tôm trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước do giá tôm nguyên liệu duy trì ổn định, người nuôi áp dụng mô hình thâm canh, siêu thâm canh và ứng dụng công nghệ cao làm tăng năng suất, cùng với đó hoạt động tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu duy trì ổn định. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Tám ước đạt 119,0 nghìn tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 29,8 nghìn tấn, tăng 4,9%. Tính chung tám tháng năm 2026, tôm thẻ chân trắng đạt 806,0 nghìn tấn, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú ước đạt 230,2 nghìn tấn, tăng 4,2%.

Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước đạt 362,0 nghìn tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 283,0 nghìn tấn, tăng 0,1%; tôm đạt 13,4 nghìn tấn, tăng 2,1%; thủy sản khác đạt 65,7 nghìn tấn, tăng 3,2%. Hoạt động khai thác biển duy trì ổn định mặc dù thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động vươn khơi; sản lượng khai thác tăng nhẹ so với cùng kỳ. Tính chung tám tháng năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 2.695,5 nghìn tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 2.099,7 nghìn tấn, tăng 0,4%; tôm đạt 86,9 nghìn tấn, tăng 1,8%; thủy sản khác đạt 509,0 nghìn tấn, tăng 1,8%. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước đạt 347,8 nghìn tấn, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 272,3 nghìn tấn, tăng 0,4%; tôm đạt 12,5 nghìn tấn, tăng 2,2%; thủy sản khác đạt 62,9 nghìn tấn, tăng 3,5%. Tính chung tám tháng năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 2.581,1 nghìn tấn, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 2.015,4 nghìn tấn, tăng 0,4%; tôm đạt 80,5 nghìn tấn, tăng 1,8%; thủy sản khác đạt 485,1 nghìn tấn, tăng 1,9%.

Hình 3. Sản lượng thủy sản tám tháng năm 2026

so với cùng kỳ năm 2025

Tính chung tám tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 6.949,4 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 4.816,3 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 1.184,2 nghìn tấn, tăng 7,4%; thủy sản khác đạt 948,9 nghìn tấn, tăng 5,8%.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Tám tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, chỉ số IIP tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của tám tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua.

Chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo tháng Tám tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,8%; ngành khai khoáng tăng 18,5%.

Tính chung tám tháng năm 2026, IIP ngành chế biến, chế tạo tăng 12,5% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,0%), đóng góp 9,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành khai khoáng tăng 8,1% (cùng kỳ năm 2025 giảm 2,1%), đóng góp 1,3 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,1% (cùng kỳ năm 2025 tăng 5,0%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,8%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tám tháng năm 2026 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 22,4%; sản xuất đồ uống tăng 16,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,6%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 12,2%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất và khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên cùng tăng 11,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,6%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng thấp 3,6%; khai thác than cứng và than non giảm 1,8%.

Biểu 1. Tốc độ tăng, giảm chỉ số IIP tám tháng giai đoạn 2022-2026so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm (%)

2022

2023

2024

2025

2026

Khai thác than cứng và than non

6,9

-1,2

-3,5

1,9

-1,8

Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên

-0,6

-2,6

-11,9

-6,8

11,9

Sản xuất chế biến thực phẩm

9,0

4,9

7,3

10,2

11,6

Sản xuất đồ uống

27,3

4,0

0,2

2,7

16,4

Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

18,0

-2,4

10,8

13,1

3,6

Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện

13,5

-4,6

9,8

9,7

12,2

Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất

4,8

5,2

16,5

7,3

11,9

Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic

-6,6

8,5

29,3

17,0

12,3

Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác

7,2

-4,3

-1,0

14,7

12,6

Sản xuất kim loại

-1,2

0,6

12,3

10,5

22,4

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học

11,0

-3,2

9,5

8,0

13,9

Sản xuất thiết bị điện

16,9

2,1

10,5

5,1

14,6

Sản xuất xe có động cơ

3,9

-6,6

11,2

27,2

15,9

Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế

5,3

0,8

22,9

11,1

12,7

Hình 4. Tốc độ tăng, giảm IIP tám tháng năm 2026so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%)

10 địa phương có chỉ số IIPtăng cao nhất

10 địa phương có chỉ số IIPtăng thấp nhất

Chỉ số sản xuất công nghiệp tám tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong tám tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Xe máy tăng 27,9%; máy tính xách tay tăng 25,7%; ô tô tăng 24,0%; thép cán tăng 23,4%; thủy hải sản chế biến tăng 21,4%; đường kính tăng 18,5%; thép thanh thép góc tăng 15,2%; bia tăng 14,4%; sơn hóa học tăng 12,2%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân hỗn hợp NPK giảm 8,6%; bột ngọt giảm 8,1%; giày, dép da giảm 4,2%; khí hóa lỏng LPG giảm 3,2%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2026 tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,8% so với cùng thời điểm năm trước. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,0% và tăng 4,0%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không đổi và tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% và tăng 5,0%.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Tám, cả nước có gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 189,4 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 60,4 nghìn lao động, giảm 14,4% về số doanh nghiệp, tăng 13,9% về vốn đăng ký và giảm 26,4% về số lao động so với tháng Bảy. So với cùng kỳ năm trước, giảm 40,5% về số doanh nghiệp, giảm 41,9% về số vốn đăng ký và giảm 43,5% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Tám đạt 15,6 tỷ đồng, tăng 33,2% so với tháng trước và giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5% so với tháng trước và giảm 23,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Trong tháng Tám, có 5.322 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0% so với tháng trước và giảm 18,5% so với cùng kỳ năm 2025; có 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1% và tăng 10,1%; có 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6% và tăng 151,2%.

Tính chung tám tháng năm 2026, cả nước có gần 138,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 1.708,3 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 657,7 nghìn lao động, tăng 7,7% về số doanh nghiệp, tăng 36,2% về vốn đăng ký và giảm 15,4% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tám tháng năm 2026 đạt 12,4 tỷ đồng, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong tám tháng năm 2026 đạt gần 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có gần 68,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 15,8% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong tám tháng năm 2026 lên gần 206,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 25,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, tám tháng năm 2026 có 1.448 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước; gần 34,1 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 19,8%; gần 102,6 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 4,1%.

Hình 5. Tình hình đăng ký doanh nghiệp tám tháng năm 2026so với cùng kỳ năm 2025

Tính chung tám tháng năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là hơn 88,0 nghìn doanh nghiệp, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước; gần 28,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 40,3%; hơn 40,8 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 125,5%. Bình quân một tháng có 19,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Biểu 2. Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể tám tháng năm 2026 phân theo một số lĩnh vực hoạt động

Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp)

Tốc độ tăng, giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

Thành lập mới

Giải thể

Thành lập mới

Giải thể

Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy

55.570

15.474

0,9

133,5

Công nghiệp chế biến chế tạo

18.016

4.407

4,7

123,8

Xây dựng

13.746

3.095

40,1

141,6

Kinh doanh bất động sản

4.078

2.384

15,1

135,1

Vận tải kho bãi

9.408

1.629

29,4

135,4

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

6177

2.001

32,0

117,0

Sản xuất phân phối, điện, nước, gas

1.546

440

60,2

100,9

4. Đầu tư

Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tám được các bộ, ngành và địa phương tập trung đẩy mạnh thực hiện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tính chung tám tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 50,5% kế hoạch, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam tám tháng năm 2026 ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tám ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 15,0 nghìn tỷ đồng, tăng 8,3%; vốn địa phương quản lý đạt 90,7 nghìn tỷ đồng, tăng 27,2%. Tính chung tám tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 546,8 nghìn tỷ đồng, bằng 50,5% kế hoạch năm và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 bằng 45,3% và tăng 26,4%). Cụ thể:

- Vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý ước đạt 75,9 nghìn tỷ đồng, bằng 48,2% kế hoạch năm và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số giảm: Bộ Xây dựng đạt 19,8 nghìn tỷ đồng, giảm 49,3%; Bộ Nông nghiệp và Môi trường đạt 3,8 nghìn tỷ đồng, giảm 59,3%; Bộ Y tế đạt 739,7 tỷ đồng, giảm 56,4%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 549,1 tỷ đồng, giảm 44,9%.

- Vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý ước đạt 470,9 nghìn tỷ đồng, bằng 50,9% kế hoạch năm và tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 379,6 nghìn tỷ đồng, bằng 52,0% và tăng 19,6% so với cùng kỳ năm 2025;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 91,3 nghìn tỷ đồng, bằng 46,9% và tăng 24,1%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tám tháng năm 2026 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng mạnh tại nhiều địa phương.

Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tám tháng năm 2026 của một số địa phương

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/8/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 7. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam

tám tháng giai đoạn 2022-2026 (Tỷ USD)

- Vốn đăng ký cấp mới có 2.771 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 21,72 tỷ USD, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và tăng 96,8% về số vốn đăng ký. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 12,15 tỷ USD, chiếm 55,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 3,13 tỷ USD, chiếm 14,4%; các ngành còn lại đạt 6,44 tỷ USD, chiếm 29,7%.

Trong số 73 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong tám tháng năm 2026, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 7,62 tỷ USD, chiếm 35,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,67 tỷ USD, chiếm 26,1%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 2,96 tỷ USD, chiếm 13,6%; Trung Quốc 1,93 tỷ USD, chiếm 8,9%; Nhật Bản 1,42 tỷ USD, chiếm 6,5%; Hà Lan 424,3 triệu USD, chiếm 2,0%.

- Vốn đăng ký điều chỉnh có 819 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 12,21 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước.

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 20,18 tỷ USD, chiếm 59,5% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; sản xuất kinh doanh bất động sản đạt 5,32 tỷ USD, chiếm 15,7%; các ngành còn lại đạt 8,42 tỷ USD, chiếm 24,8%.

- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 2.062 lượt với tổng giá trị góp vốn 6,7 tỷ USD, tăng 50,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 652 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,55 tỷ USD và 1.410 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,15 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 2,74 tỷ USD, chiếm 40,9% giá trị góp vốn; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 2,01 tỷ USD, chiếm 30,0%; ngành còn lại 1,95 tỷ USD, chiếm 29,1%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam tám tháng năm 2026 ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của tám tháng trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,24 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,29 tỷ USD, chiếm 7,5%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 622,9 triệu USD, chiếm 3,6%.

Hình 8. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện

tám tháng giai đoạn 2022-2026 (Tỷ USD)

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong tám tháng năm 2026 có 113 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,21 tỷ USD, gấp 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước; có 29 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 1,41 tỷ USD, gấp 10,9 lần.

Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) trong tám tháng năm 2026 đạt 2,62 tỷ USD, gấp 4,7 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải kho bãi đạt đạt 601,7 triệu USD, chiếm 23,0% tổng vốn đầu tư; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 585,8 triệu USD, chiếm 22,4%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 516,6 triệu USD, chiếm 19,7%; công nghiệp chế biến chế tạo đạt 320,1 triệu USD, chiếm 12,2%.

Trong tám tháng năm 2026, có 35 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 667,5 triệu USD, chiếm 25,5% tổng vốn đầu tư; Căm-pu-chia 486,5 triệu USD, chiếm 18,6%; Ấn Độ 323,9 triệu USD, chiếm 12,4%; In-đô-nê-xi-a 313,6 triệu USD, chiếm 12,0%; Phi-li-pin 167,2 triệu USD, chiếm 6,4%; Ca-dắc-xtan 149,9 triệu USD, chiếm 5,7%; Anh 82,8 triệu USD, chiếm 3,2%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước tám tháng năm 2026 ước tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Hình 9. Thu, chi ngân sách Nhà nước tám tháng năm 2026

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Tám ước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước tám tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, bằng 80,0% dự toán năm và tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa tháng Tám ước đạt 130,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tám tháng năm 2026 ước đạt 1.752,9 nghìn tỷ đồng, bằng 79,7% dự toán năm, chiếm 86,6% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu từ dầu thô tháng Tám ước đạt 5,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tám tháng năm 2026 ước đạt 43,6 nghìn tỷ đồng, bằng 101,5% dự toán năm, chiếm 2,2% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 31,5% so với cùng kỳ năm trước;

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng Tám ước đạt gần 13,0 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tám tháng năm 2026 ước đạt 223,9 nghìn tỷ đồng, bằng 80,6% dự toán năm, chiếm 11,1% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Tám ước đạt 238,1 nghìn tỷ đồng. Tính chung tám tháng năm 2026, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 1.608,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50,9% dự toán năm và tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước, đáp ứng các nhu cầu chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn, đảm bảo chi trả kịp thời các khoản lương và các khoản có tính chất lương đến các đối tượng thụ hưởng ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Trong đó: Chi thường xuyên đạt 1.015,0 nghìn tỷ đồng, bằng 56,1% dự toán năm, chiếm 63,1% tổng chi ngân sách Nhà nước và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; Chi đầu tư phát triển đạt 514,6 nghìn tỷ đồng, bằng 45,9%, chiếm 32,0% và tăng 35,4%; Chi trả nợ lãi 76,7 nghìn tỷ đồng, bằng 63,3%, chiếm 4,8% và tăng 11,2%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng Tám tiếp tục duy trì xu hướng tăng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và các hoạt động dịch vụ tiếp tục mở rộng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng khu vực dịch vụ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Tám năm 2026 ước đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa của hầu hết các nhóm hàng trong tháng Tám đều có xu hướng tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,8% và tăng 24,8%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 0,7% và tăng 19,2%; nhóm lương thực, thực phẩm tăng 2,0% và tăng 12,9%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 2,7% và tăng 12,3%; hàng may mặc tăng 2,4% và tăng 11,9%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,6% và tăng 9,2%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 0,3% và tăng 4,3%. Riêng nhóm hàng ô tô các loại giảm 2,7% so với tháng trước và giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước.

Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành giảm 6,9% và tăng 19,2%; các nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 1,5% và tăng 14,8%.

Biểu 3. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtheo giá hiện hành tám tháng năm 2026

Nghìn tỷ đồng

Ước tính tháng 8 năm 2026

Ước tính 8 tháng năm 2026

Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 8 năm 2026

8 tháng năm 2026

Tổng số

679,8

5.235,5

14,9

13,3

Bán lẻ hàng hóa

507,4

3.947,6

13,8

12,8

Dịch vụ lưu trú, ăn uống

90,5

670,3

21,5

16,4

Dịch vụ lữ hành

9,1

68,7

19,2

17,1

Dịch vụ khác

72,8

548,9

14,8

13,2

Tính chung tám tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,5%).

Hình 10. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtheo giá hiện hành tám tháng giai đoạn 2022-2026

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tám tháng năm 2026 ước đạt 3.947,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,4% tổng mức và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 28,1%; hàng hóa khác tăng 19,2%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 16,5%; xăng dầu các loại tăng 15,2%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 16,4%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tám tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 14,2%; Quảng Ninh tăng 13,9%; Cần Thơ và Hải Phòng cùng tăng 13,1%; Hà Nội tăng 12,8%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,2%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tám tháng năm 2026 ước đạt 670,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,8% tổng mức và tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu tám tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 21,4%; Khánh Hòa tăng 20,4%; Huế tăng 20,2%; Lâm Đồng tăng 19,5%; Thanh Hóa tăng 17,5%; Hải Phòng tăng 16,8%; Cần Thơ tăng 16,5%; Hà Nội tăng 14,4%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,9%; Cà Mau tăng 13,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành tám tháng năm 2026 ước đạt 68,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3% tổng mức và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu tám tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Ninh tăng 26,5%; An Giang tăng 21,8%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 16,0%; Đà Nẵng tăng 15,9%; Hà Nội tăng 14,1%.

Doanh thu dịch vụ khác tám tháng năm 2026 ước đạt 548,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,5% tổng mức và tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu tám tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Ninh tăng 29,6%; Huế tăng 28,2%; Đà Nẵng tăng 20,9%; Ninh Bình tăng 21,0%; Hà Nội tăng 11,2%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,6%.

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Trong tháng Tám, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 770,14 tỷ USD, là mức cao nhất của tám tháng từ trước đến nay, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu tăng 22,4%; nhập khẩu tăng 35,3%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,46 tỷ USD.

Hình 11. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tám tháng năm 2026

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Tám đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,5 tỷ USD, tăng 2,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 44,29 tỷ USD, tăng 3,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Tám tăng 26,0%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 29,2%.

Tính chung tám tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9%, chiếm 80,1%.

Trong tám tháng năm 2026 có 33 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,0%).

Biểu 4. Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu tám tháng năm 2026

Giá trị

(Triệu USD)

Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD

Điện tử, máy tính và linh kiện

101.059

51,1

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

47.289

26,4

Điện thoại các loại và linh kiện

45.590

19,4

Hàng dệt, may

26.897

1,6

Giày dép

16.202

0,7

Phương tiện vận tải và phụ tùng

13.392

16,6

Gỗ và sản phẩm gỗ

11.807

6,0

205740266700Hình 12. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu

tám tháng năm 2026

00Hình 12. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu

tám tháng năm 2026

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu tám tháng năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 337,99 tỷ USD, chiếm 90,2%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 26,65 tỷ USD, chiếm 7,1%; nhóm hàng thủy sản đạt 8,0 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 0,6%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Tám đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 12,82 tỷ USD, giảm 7,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 42,09 tỷ USD, giảm 1,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Tám tăng 37,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 19,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 44,6%.

Tính chung tám tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 105,07 tỷ USD, tăng 23,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 290,23 tỷ USD, tăng 40,1%.

Trong tám tháng năm 2026 có 43 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,9% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 3 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 55,5%).

Biểu 5. Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu tám tháng năm 2026

Giá trị

(Triệu USD)

Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD

Điện tử, máy tính và linh kiện

161.630

68,3

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

47.400

22,1

Vải

10.165

2,5

81915267335Hình 13. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu

tám tháng năm 2026

00Hình 13. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu

tám tháng năm 2026

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu tám tháng năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 372,04 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 57,6%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 23,26 tỷ USD, chiếm 5,9%.

Hình 14. Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu tám tháng năm 2026

984253619500 Xuất khẩu hàng hóa

4146553619500 Nhập khẩu hàng hóa

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa tám tháng năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 122,0 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 161,9 tỷ USD. Trong tám tháng năm 2026, xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 106,6 tỷ USD tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 31,4 tỷ USD, tăng 22,8%; xuất siêu sang Nhật Bản 2,4 tỷ USD, tăng 58,0%; nhập siêu từ Trung Quốc 107,7 tỷ USD, tăng 41,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 37,8 tỷ USD, tăng 89,4%; nhập siêu từ ASEAN 13,5 tỷ USD, tăng 43,4 LINK Excel.Sheet.12 "D:\\02 BAO CAO\\NAM2026\\Form\\Bieu mau XNK.xlsx" Sheet1!R19C14 \a \f 5 \h \* MERGEFORMAT %.

Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Tám nhập siêu 0,12 tỷ USD. Tính chung tám tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,46 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 14,02 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 30,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 10,14 tỷ USD.

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám tăng 0,47% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng Tám tăng 3,57% so với tháng 12/2025 và tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung tám tháng năm 2026, CPI tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,24%.

CPI tháng Tám tăng 0,47% so với tháng trước, trong đó có 10 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng; 01 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm.

Hình 15. Tốc độ tăng CPI tháng Tám năm 2026 so với tháng trước (%)

Mười nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, gồm:

(i) Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% so với tháng trước. Trong đó, giá sách, báo, tạp chí các loại tăng 0,27%; du lịch trong nước tăng 0,20%; thiết bị dụng cụ thể thao tăng 0,19%; đồ chơi tăng 0,15%; khách sạn tăng 0,06%. Ở chiều ngược lại, vé thuê chỗ chơi thể thao giảm 0,09%; du lịch ngoài nước giảm 0,24%; xem phim, ca nhạc giảm 1,02%.

(ii) Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05% do giá một số loại thuốc tăng nhẹ khi chi phí nguyên liệu đầu vào tăng.

(iii) Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,08% so với tháng trước. Trong đó, giá máy điện thoại di động thông thường tăng 1,24%; máy điện thoại cố định tăng 0,53%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,19%; sửa chữa điện thoại tăng 0,18%; dịch vụ viễn thông tăng 0,11%. Ở chiều ngược lại, giá ti vi màu giảm 0,32%; phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,08%; máy vi tính và phụ kiện giảm 0,03%.

(iv) Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,10% so với tháng trước, chủ yếu do giá thuê nhà tăng 0,07%; dầu hỏa tăng 4,63%; gas tăng 4,19%; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,03%. Ở chiều ngược lại, giá điện sinh hoạt giảm 1,33%, giá nước sinh hoạt giảm 0,32%.

(v) Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,11% so với tháng trước do nhu cầu mua sắm chuẩn bị năm học mới tăng. Trong đó, giá mũ nón tăng 0,27%; vải các loại tăng 0,18%; giày, dép tăng 0,11%; quần áo may sẵn tăng 0,09%; dịch vụ giày, dép tăng 0,65%; dịch vụ may mặc tăng 0,48%.

(vi) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12% do nhu cầu tiêu dùng cùng với chi phí nguyên liệu sản xuất đầu vào tăng. Trong đó, giá nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,52%; nước khoáng tăng 0,34%; thuốc hút tăng 0,24%; rượu các loại tăng 0,18%; nước quả ép tăng 0,10%; bia các loại tăng 0,06%. Riêng giá nước giải khát có ga giảm 0,14%.

(vii) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15% so với tháng trước, trong đó: Giá máy dùng điện cho chăm sóc cá nhân tăng 0,75%; sửa chữa đồng hồ đeo tay, sửa chữa đồ trang sức tăng 0,50%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 0,49%; dụng cụ cá nhân không dùng điện tăng 0,33%; dịch vụ về hiếu, hỷ tăng 0,21%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,19%. Ngược lại, giá đồ trang sức giảm 0,50%; túi xách, va ly, ví giảm 0,44%; dịch vụ hành chính, pháp lý giảm 0,35%.

(viii) Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,19% so với tháng trước, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công sản xuất tăng. Trong đó, giá vật phẩm tiêu dùng khác tăng 0,33%; tủ lạnh, đồ dùng nấu ăn và hàng thủy tinh, sành, sứ cùng tăng 0,27%; đồ điện và xà phòng, chất tẩy rửa cùng tăng 0,20%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,13%; đồ dùng bằng kim loại và đồ nhựa, cao su cùng tăng 0,07%; hàng dệt trong nhà tăng 0,05%; dịch vụ sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,34%; dịch vụ trong gia đình tăng 0,18%. Ở chiều ngược lại, giá bàn là điện giảm 0,92%; gương treo tường giảm 0,70%; máy đánh trứng giảm 0,50%; máy giặt giảm 0,35%; bình nước nóng nhà tắm giảm 0,10%.

(ix) Nhóm giáo dục tăng 0,47% so với tháng trước, trong đó: Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,57%; giá sản phẩm từ giấy tăng 0,37%; bút viết các loại tăng 0,34%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,29%.

(x) Nhóm giao thông tăng 4,09% so với tháng trước (tác động làm CPI chung tăng 0,41 điểm phần trăm), chủ yếu do chỉ số giá dầu diesel tăng 22,15%; giá xăng tăng 9,53% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. Bên cạnh đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,11%; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,40%; giá dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,33%; phí học bằng lái xe tăng 0,37%. Ở chiều ngược lại, giá vận tải hành khách bằng đường sắt giảm 9,86%; vận tải hành khách bằng đường hàng không giảm 0,81%; vận tải hành khách bằng xe buýt giảm 0,29%; giá xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,63%; xe ô tô mới giảm 0,50%; xe máy giảm 0,18%.

Riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03% so với tháng trước (góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm), trong đó: Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,05%; lương thực giảm 0,04%; dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,01%.

CPI bình quân tám tháng năm 2026 tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,71% (làm CPI chung tăng 1,52 điểm phần trăm); giao thông tăng 5,38% (làm CPI chung tăng 0,54 điểm phần trăm); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76% (làm CPI chung tăng 1,70 điểm phần trăm); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,46% (làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm); đồ uống và thuốc lá tăng 3,67% (làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm); giáo dục tăng 3,42% (làm CPI chung tăng 0,2 điểm phần trăm); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,79% (làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,71%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,08%; thông tin và truyền thông tăng 0,09%.

Lạm phát cơ bản tháng Tám tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 4,55% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân tám tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,45% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.

Giá vàng trong nước biến động không cùng chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới tháng Tám (tính đến ngày 25/8/2026) ở mức 4.377,25 USD/ounce, tăng 7,22% so với tháng Bảy. Giá vàng thế giới tăng chủ yếu do đồng USD suy yếu, lợi suất trái phiếu Mỹ giảm, dòng vốn đầu tư vào các quỹ vàng tăng mạnh; đồng thời, bất ổn địa chính trị tại Iran và khu vực Trung Đông tiếp tục làm gia tăng nhu cầu đối với vàng. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Tám giảm 0,65% so với tháng trước; tăng 16,98% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 6,27% so với tháng 12/2025. Bình quân tám tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 46,98% so với cùng kỳ năm trước.

Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới. Chỉ số USD bình quân trên thị trường quốc tế tháng Tám (tính đến ngày 25/8/2026) đạt mức 99,65 điểm, giảm 1,17 điểm so với tháng Bảy chủ yếu do đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế trong bối cảnh kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Mỹ thay đổi và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng Tám giảm 0,38% so với tháng trước; giảm 0,36% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 0,38% so với tháng 12/2025. Bình quân tám tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước.

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải tháng Tám duy trì đà tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và khách quốc tế, đồng thời bảo đảm lưu thông hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại, du lịch và phát triển kinh tế. So với cùng kỳ năm trước, vận tải hành khách tháng Tám tăng 17,9% về vận chuyển và tăng 16,0% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 17,6% về vận chuyển và tăng 17,3% về luân chuyển.

Tính chung tám tháng năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 18,6% và luân chuyển tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 16,7% và luân chuyển tăng 12,9%.

Vận tải hành khách tháng Tám ước đạt 658,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 32,1 tỷ lượt khách.km, tăng 1,8% và tăng 16,0%. Tính chung tám tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 4.687,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 234,3 tỷ lượt khách.km, tăng 13,1%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 4.674,0 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước và 191,7 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 15,7%; vận tải ngoài nước ước đạt 13,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 4,4% và 42,6 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 2,8%.

Biểu 6. Vận tải hành khách tám tháng năm 2026 phân theo ngành vận tải

Số lượt hành khách

Tốc độ tăng/giảm so vớicùng kỳ năm trước (%)

Vận chuyển(Triệu HK)

Luân chuyển(Tỷ HK.km)

Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

4.687,5

234,3

18,6

13,1

Đường sắt

33,1

2,4

23,6

-2,9

Đường biển

8,4

0,7

-0,1

11,4

Đường thủy nội địa

297,6

7,3

7,5

15,5

Đường bộ

4307,2

157,9

19,6

18,0

Hàng không

41,2

66,0

6,7

3,3

Vận tải hàng hóa tháng Tám ước đạt 324,0 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 63,0 tỷ tấn.km, tăng 2,1% và tăng 17,3%. Tính chung tám tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 2.285,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 450,5 tỷ tấn.km, tăng 12,9%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.245,3 triệu tấn vận chuyển, tăng 16,7% và 257,9 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 14,2%; vận tải ngoài nước ước đạt 39,8 triệu tấn vận chuyển, tăng 18,0% và 192,6 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 11,2%.

Biểu 7. Vận tải hàng hóa tám tháng năm 2026 phân theo ngành vận tải

Sản lượng hàng hóa

Tốc độ tăng/giảm so vớicùng kỳ năm trước (%)

Vận chuyển(Triệu tấn)

Luân chuyển(Tỷ tấn.km)

Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

2.285,1

450,5

16,7

12,9

Đường sắt

3,0

2,5

-16,6

-6,8

Đường biển

112,0

228,4

10,7

8,8

Đường thủy nội địa

446,8

102,5

13,0

17,5

Đường bộ

1.723,0

110,2

18,2

19,2

Hàng không

0,3

6,9

1,5

4,0

đ) Khách quốc tế đến Việt Nam

Hoạt động du lịch tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong tám tháng năm 2026. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam tám tháng năm 2026 đạt 15,9 triệu lượt người, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trên là nhờ tình hình an ninh, an toàn, trật tự xã hội được đảm bảo; chính sách thị thực thuận lợi, công tác xúc tiến, quảng bá được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí du lịch hợp lý.

Trong tháng Tám, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 15,9 triệu lượt người, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước và là số lượt khách đến nước ta cao nhất của 8 tháng các năm trong nhiều năm qua. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 13,2 triệu lượt người, chiếm 83,1% lượng khách quốc tế đến và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 2,5 triệu lượt người, chiếm 15,5% và tăng 32,0%; bằng đường biển đạt 220,6 nghìn lượt người, chiếm 1,4% và tăng 17,5%.

Hình 16. Khách quốc tế đến Việt Nam tám tháng năm 2026 phân theo vùng lãnh thổ

7. Một số tình hình xã hội

Trong tháng Tám, tình hình đời sống dân cư duy trì ổn định, các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được tăng cường triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước.

a) Đời sống dân cư

Theo kết quả sơ bộ Điều tra lao động việc làm, tình hình đời sống dân cư trong tháng Tám nhìn chung duy trì ổn định. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với tháng cùng kỳ năm trước là 96,5% (giảm 0,2 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo tháng Bảy và giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,5%.

Trong các hộ đánh giá có thu nhập tăng, có 67,1% hộ đánh giá do tăng thu từ tiền lương, tiền công của thành viên hộ; 39,5% hộ nhận định do tăng thu từ hoạt động nông, lâm nghiệp, thủy sản; 21,0% hộ đánh giá do tăng thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông, lâm nghiệp, thủy sản.

Trong các hộ đánh giá thu nhập giảm, có 30,0% hộ đánh giá do chi phí đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ tăng; 27,9% hộ đánh giá do giá bán các sản phẩm từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ giảm; 20,5% hộ đánh giá do thành viên hộ bị ốm, bệnh, chấn thương nặng hoặc tử vong; 19,6% hộ đánh giá do có thành viên tạm nghỉ việc và 17,6% hộ đánh giá do quy mô các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ giảm.

Về tác động của các sự kiện tiêu cực đến đời sống trong tám tháng năm 2026, các hộ gia đình được khảo sát cho biết: 36,0% hộ đang phải chịu ảnh hưởng do giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao; 7,6% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thiên tai, biến đổi khí hậu; 3,7% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với vật nuôi, cây trồng; 2,9% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với con người; 2,2% hộ chịu ảnh hưởng do thành viên hộ bị ốm, bệnh, chấn thương nặng hoặc tử vong và 0,5% hộ chịu ảnh hưởng của hỏa hoạn, cháy nổ.

Trong tám tháng năm nay, có 18,4% hộ gia đình được phỏng vấn nhận được trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau. Cụ thể, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ các chương trình, chính sách chung của quốc gia là 9,0%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 7,2%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 2,2%; từ họ hàng, người thân là 10,3%; và từ các nguồn khác là 0,06%.

Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến nay (đến ngày 26/8/2026), Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 18,1 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 8,2 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 547,2 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 887,4 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 59,1 nghìn nhân khẩu.

b) Tri ân người có công

“Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027) đang được các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương quyết liệt triển khai. Thời gian qua, Chiến dịch đã tập trung thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; thu nhận, lưu trữ và giám định ADN; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ đối khớp thông tin; đồng thời triển khai rà phá bom mìn, vật nổ tại những địa bàn có nhiều di tích chiến tranh và khu vực nghi có mộ liệt sĩ. Một số kết quả đạt được tính đến ngày 22/8/2026 như sau:

Các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 1.863 hài cốt liệt sĩ, trong đó 839 hài cốt được tìm thấy trong nước, 174 hài cốt tại Lào và 850 hài cốt tại Cam-pu-chia. Chiến dịch đang huy động 32 đội tìm kiếm, quy tập với tổng quân số 1.559 người. Trong đó, có 13 đội thực hiện nhiệm vụ trong nước và 19 đội làm nhiệm vụ ở nước ngoài, gồm 8 đội tại Lào và 11 đội tại Cam-pu-chia. Các đơn vị đã tổ chức 16 lễ truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ, trong đó đón 850 hài cốt liệt sĩ.

Lực lượng chức năng đã lấy mẫu đối với 148.601 mộ liệt sĩ, đạt 69,8% tiến độ. Trong số này, có 102.689 mộ đủ điều kiện lấy mẫu, đạt 69,1%; 45.912 mộ chưa đủ điều kiện lấy mẫu. Đến nay, 11/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành lấy mẫu. Để triển khai nhiệm vụ, 264 tổ, đội lấy mẫu với khoảng 3.500 người đã được huy động. Công tác lấy mẫu thân nhân liệt sĩ cũng được đẩy mạnh. Tổng số mẫu đã lấy là 265.761 mẫu; trong đó 71.102 mẫu đã được phân tích và 66.909 mẫu được đồng bộ vào cơ sở dữ liệu. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ quá trình phân tích, đối sánh ADN, từng bước xác định danh tính những liệt sĩ còn thiếu thông tin. Cùng với việc lấy mẫu tại các địa phương, công tác tiếp nhận, lưu trữ và bảo quản mẫu hài cốt liệt sĩ được triển khai nhằm bảo đảm nguồn mẫu phục vụ giám định. Đến ngày 22/8, đã tiếp nhận, lưu trữ và bảo quản 35.983 mẫu hài cốt liệt sĩ của các địa phương. Riêng Viện Pháp y Quân đội đã tiếp nhận 27.169 mẫu hài cốt liệt sĩ của 16/17 tỉnh, thành phố và thực hiện giám định 195 mẫu.

Công tác rà phá bom mìn, vật nổ tiếp tục được xác định là nhiệm vụ quan trọng, trực tiếp bảo đảm an toàn cho hoạt động tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Cho đến nay, các lực lượng đã rà phá được 11.793,6/22.725ha, đạt 51,9% kế hoạch. Riêng vùng lõi Vị Xuyên/Tuyên Quang đã rà phá 4.075,8/4.460 ha, đạt 91,39%. Để thực hiện nhiệm vụ, 360 đội rà phá bom mìn được huy động, sử dụng 1.311 máy dò và các trang thiết bị chuyên dụng, với tổng số 5.183 người tham gia.

c) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (từ ngày 18/7-17/8/2026), cả nước có hơn 16,7 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết (02 người tử vong); 8.689 người mắc bệnh tay chân miệng (01 người tử vong); 253 người sốt phát ban nghi sởi (không có người tử vong); 32 người viêm não vi rút; 02 người viêm não mô cầu; 06 người chết do bệnh dại. Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 78,3 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết (13 người tử vong); hơn 67,3 nghìn người mắc tay chân miệng (11 người tử vong); 5.005 người sốt phát ban nghi sởi; 210 trường hợp viêm não vi rút (01 người tử vong); 33 người viêm màng não do não mô cầu (05 người tử vong); 46 người chết do bệnh dại.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/8/2026 là 258,0 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS là 119,6 nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Tám xảy ra 02 vụ với 140 người bị ngộ độc. Tính chung tám tháng năm 2026 (từ ngày 18/12/2025-17/8/2026), cả nước xảy ra 57 vụ với gần 2,8 nghìn người bị ngộ độc (07 người tử vong).

d) Hoạt động văn hóa, thể thao

Về văn hóa, trong tháng Tám, các hoạt động văn hóa diễn ra phong phú, đa dạng, tập trung vào tuyên truyền, giáo dục truyền thống nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 và các hoạt động triển lãm, nghệ thuật, lễ hội, giao lưu văn hóa, bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Nhiều hoạt động tiêu biểu được tổ chức tại các địa phương như: triển lãm “Di sản của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn” tại Hưng Yên; chương trình “Sắc màu văn hóa ASEAN 2026” tại Hà Nội; Lễ hội Điện Huệ Nam trong khuôn khổ Festival Huế 2026; triển lãm về Văn Miếu - Quốc Tử Giám và truyền thống hiếu học tại Quảng Ninh; và Lễ hội Việt Nam - Hàn Quốc Thành phố Đà Nẵng năm 2026; chương trình “Tổ quốc trong tim” tại Thành phố Hồ Chí Minh; triển lãm “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” tại Gia Lai.

Về thể thao thành tích cao, hoạt động thi đấu thể thao diễn ra sôi động trong nước và quốc tế, với các sự kiện nổi bật như: Giải vô địch Võ thuật tài năng trẻ Việt Nam lần thứ VII diễn ta tại Bắc Ninh từ ngày 23-26/8/2026; giải vô địch các đội mạnh Bắn cung quốc gia 2026 diễn ra tại Huế từ ngày 24/8/2026; giải bơi lặn vô địch câu lạc bộ quốc gia 2026 diễn ra tại Hải Phòng từ ngày 24-28/8/2026. Bên cạnh đó, trên đấu trường quốc tế, thể thao Việt Nam tiếp tục đạt nhiều kết quả như: Giải Cờ vua giành 121 huy chương vàng, 37 huy chương bạc, 85 huy chương đồng, đứng Nhất toàn đoàn tại Giải vô địch Cờ vua Trẻ ASEAN+ lần thứ 24; Bơi mặt nước mở giành 11 huy chương vàng tại Giải vô địch Đông Nam Á 2026; Khiêu vũ thể thao giành 2 huy chương vàng; bóng chuyền nữ giành á quân chặng 1 SEA V.Cup 2026; Cầu mây giành huy chương vàng đôi nữ tại King's Cup 2026. Tại ASEAN Hyundai Cup 2026, đội tuyển bóng đá nam Việt Nam bảo vệ thành công chức vô địch Đông Nam Á.

Về thể thao quần chúng, phong trào thể dục, thể thao tiếp tục phát triển rộng khắp, gắn với Đại hội Thể dục thể thao các cấp, thúc đẩy thể thao cộng đồng và phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Nhiều hoạt động được tổ chức tại các địa phương, nổi bật như Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Cao Bằng lần thứ X; các giải võ thuật diễn ra tại Thanh Hóa; các giải Taekwondo, Cầu lông diễn ra tại nhiều địa phương; Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026; đại hội Thể dục thể thao tỉnh Đắk Lắk lần thứ I; Giải Futsal U20 quốc gia 2026 diễn ra tại Thành Hồ Chí Minh; giải Bóng đá nữ các dân tộc thiểu số Việt Nam - VTV Cup lần thứ I diễn ra tại Lào Cai; giải Bóng đá U9 toàn quốc Toyota Cup 2026 diễn ra tại Quảng Ngãi; giải Billiards Carom 3 băng Siêu Cúp Phúc Thịnh 2026.

đ) Tai nạn giao thông

Trong tháng Tám (từ ngày 15/7-14/8/2026), cả nước xảy ra 1.280 vụ tai nạn giao thông, làm chết 805 người và bị thương 748 người. So với tháng Bảy, số vụ tai nạn giao thông tăng 9,5%; số người chết tăng 14,7%; số người bị thương tăng 7,9%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giao thông giảm 11,4%; số người chết giảm 2,7%; số người bị thương giảm 21,1%.

Tính chung tám tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 12.347 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7.048 người và bị thương 8.130 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 17,2%; số người chết giảm 9,4%; số người bị thương giảm 27,1%. Bình quân một ngày trong tám tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm chết 26 người, bị thương 24 người.

e) Thiệt hại do thiên tai

Thiệt hại do thiên tai trong tháng Tám chủ yếu do mưa lốc, giông sét làm 11 người chết và mất tích, 15 người bị thương; hơn 44,9 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng; gần 4,7 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 737,1 tỷ đồng, giảm 91,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm nay, thiên tai làm 50 người chết và mất tích, 91 người bị thương; 80,4 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 12,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 2.681,9 tỷ đồng, giảm 83,5% so với cùng kỳ năm 2025.

g) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng Tám (từ ngày 26/7-23/8/2026), các cơ quan chức năng phát hiện 1.221 vụ vi phạm môi trường tại 31/34 địa phương, trong đó xử lý 1.138 vụ với tổng số tiền phạt 21,6 tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 46,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, các cơ quan chức năng phát hiện 12.770 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 10.015 vụ với tổng số tiền phạt 187,7 tỷ đồng, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng (từ ngày 15/7-14/8/2026), cả nước xảy ra 249 vụ cháy, nổ, làm 04 người chết và 12 người bị thương, thiệt hại ước tính 16,4 tỷ đồng, giảm 40,6% so với tháng trước và giảm 49,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.001 vụ cháy, nổ, làm 64 người chết và 94 người bị thương, thiệt hại ước tính 618,6 tỷ đồng, gấp gần 3,2 lần cùng kỳ năm trước./.

Nơi nhận:

- Tổng Bí thư;

- Chủ tịch nước;

- Chủ tịch Quốc hội;

- Thủ tướng Chính phủ;

- Các Phó Thủ tướng Chính phủ;

- Lãnh đạo Bộ Tài chính;

- Các cơ quan thuộc Trung ương Đảng;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Các cơ quan thuộc Quốc hội;

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,

cơ quan thuộc Chính phủ;

- Toà án Nhân dân tối cao;

- Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao;

- Các đoàn thể Trung ương;

- Các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

- Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp VN;

- Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính;

- Cơ quan Thông tấn, báo chí;

- Các đơn vị thuộc CTK;

- Lưu: VT, THĐN.

CỤC TRƯỞNG

Nguyễn Thị Hương

Báo cáo phân tích vĩ mô